MỘT VÀI NÉT VỀ HOẠT ĐỘNG CỦA TỔ CHỨC CƠ SỞ HCRVN
Trong khuôn khổ Dự án VIFORA của tổ chức Recoftc, trong những ngày cuối tháng sáu 2017 vừa qua, tại TP Bắc Giang, Recoftc đã tổ chức tập huấn cho các cán bộ chủ chốt của các chi hội HCRVN thuộc ba tỉnh (Quảng Ninh, Phú Thọ và Sơn La) về phát triển rừng bền vững. Trong ngày khai mạc đợt tập huấn này, ông Hứa Đức Nhị, Chủ tịch HCRVN, đã có một số trao đổi về các hoạt động của các tổ chức cơ sở Hội Chủ rừng Việt Nam.
Ban biên tập trang website HCRVN trân trọng chuyển tới độc giả lược ghi bài trao đổi này của ông Hứa Đức Nhị để hội viên và độc giả tham khảo.

1- Tình hình chung của Hội và về các tổ chức cơ sở của Hội:
Hội Chủ rừng Việt Nam đã tổ chức đại hội thành lập trong hai ngày, mùng 8-9/11/2016. Điều lệ Hội được Bộ Nội vụ phê duyệt tại QĐ 1759 ngày 17/5/2017 của Bộ Nội vụ. Sau khi điều lệ được phê duyệt, Hội đã làm con dấu và đăng ký mở tài khoản tại ngân hàng để hoạt động. Ban Thường vụ Hội cũng đã có quyết định lập trang website của hội.
Vừa qua, Ban Thường vụ hội đã có quyết định thành lập sáu tổ chức chi hội, một tổ hội cơ sở tại các tỉnh Quảng Ninh, Phú Thọ, Sơn la và Hải Dương.
Tổ chức các hoạt động tại chi hội, tổ hội một cách thiết thực là một yêu cầu cấp bách, là nhiệm vụ rất quan trọng của các chi hội, tổ hội.

2- Tổ chức Hội Chủ rừng Việt Nam là tổ chức xã hội nghề nghiệp. Như nhiều tổ chức xã hội nghề nghiệp khác, hoạt động của HCRVN cũng khó tránh khỏi những khó khăn trong cách thức hoạt động của mình, khi mà các hoạt động này có phần mới mẻ với nhiều người.
Hoạt động của HCRVN, của các tổ chức của HCRVN phải dựa trên tôn chỉ, mục đích của Hội đã quy định (trong điều lệ hội), theo đó: “Hội Chủ rừng Việt Nam (gọi tắt là Hội) là tổ chức xã hội - nghề nghiệp của các chủ rừng thuộc mọi thành phần kinh tế trong cả nước tự nguyện thành lập, nhằm mục đích tập hợp, liên kết, hỗ trợ, giúp đỡ nhau trong quản trị rừng, trong việc thực hiện quyền và nghĩa vụ của chủ rừng; bảo vệ quyền, lợi ích hợp pháp của hội viên theo quy định của pháp luật, góp phần vào việc phát triển kinh tế-xã hội của đất nước.”
Những người tham gia hội là tự nguyện và không bị bắt buộc ngoài việc tự nguyện ghép mình vào khuôn phép của Điều lệ Hội; Hội viên tham gia các hoạt động của hội trước hết là vì lợi ích của bản thân mình, nếu có những hoạt động đóng góp cho hội và cho những người khác cũng là vì mình cũng có những lợi ích từ những đóng góp của mình và đóng góp của những hội viên khác.
Những vấn đề mà hội quan tâm nhất chính là những lợi ích của hội viên, là những vấn đề liên quan đến quyền và nghĩa vụ của chủ rừng, là những khó khăn trong việc làm rừng, trong việc quản trị rừng..

3- Các hoạt động của tổ chức hội cơ sở:
Hội viên và các tổ chức hội ở cơ sở có thể có các hoạt động, đó là:
+ Các cuộc họp chi hội, tổ hội;
+ Việc đề đạt, thu thập ý kiến của hội viên;
+ Các hoạt động cụ thể của các hội viên được tổ chức hội phân công;
+ Các hoạt động tập huấn, tham quan học hỏi;
+ Các hoạt động tham gia vào những việc, những dự án cụ thể của hội viên..

4- Nội dung chính của các cuộc họp của tổ chức hội cơ sở:
Khác với nhiều cuộc họp của các tổ chức khác, trong các cuộc họp định kỳ, hay đột xuất của tổ chức hội cơ sở cần cùng nhau nêu lên những khó khăn của mỗi hội viên đang gặp phải, nhất là những khó khăn trong thực hiện các quyền và nghĩa vụ của chủ rừng, về làm rừng, về việc thực hiện kế hoạch hoạt động của tổ chức hội.. sau đó là bàn và thống nhất về những biện pháp mà chi hội, tổ hội có thể khắc phục.
Trong các biện pháp khắc phục có thể có những biện pháp cụ thể trước mắt, cũng có thể có các giải pháp lâu dài, như: thống nhất có tiếng nói kiến nghị với chính quyền, với tổ chức cấp trên.. hay các biện pháp căn cơ lâu dài mà tổ chức hội cần tổ chức thực hiện.

5- Các hoạt động hay giải pháp mà tổ chức hội cơ sở có thể làm để khắc phục những khó khăn của hội viên hay có các hoạt động vì lợi ích của HV:

5.1 Khó khăn về bảo vệ rừng:
Bảo vệ rừng bao gồm việc ngăn chặn người khác vào rừng chặt phá, phòng chống lửa rừng, phòng chống sâu bệnh hại rừng, các hoạt động xây dựng các công trình bảo vệ rừng chung cho cả cộng đồng (như đường ranh cản lửa, phòng chống lở đất rừng ven biển,,,).
Tổ chức hội cần quan tâm đến việc xây dựng quy ước bảo vệ rừng của thôn bản, của xã.. Tổ chức hội phân công hội viên có liên hệ thường xuyên với kiểm lâm và công an địa bàn, phối hợp tốt với các thôn bản và các chủ rừng liền kề với mình;.
Hội cần động viên mọi hội viên cùng có trách nhiệm bảo vệ rừng của mình và của mọi người trong thôn, trong xã; Cùng nhau đấu tranh với những người phá hoại rừng, ngăn chặn và đấu tranh với những nguyên nhân mất rừng tiềm tàng (kể cả việc chọn giống cây trồng phù hợp); Có các quy ước trong cách thức thông tin nội bộ trong việc phát hiện và xử lý việc mất rừng;
Kết hợp với thôn bản, tổ chức hội cử người phụ trách các hoạt động bảo vệ rừng; Mọi hội viên và mọi người đều có ý thức nêu vấn đề mất rừng ra cuộc họp tổ chức hội hay nếu phát hiện ra hiện tượng mất rừng thì báo ngay cho người có trách nhiệm và tự mình có trách nhiệm ngăn chặn việc mất rừng trong khả năng và điều kiện cho phép.

5.2 Khó khăn về hoàn chỉnh hồ sơ tài liệu của chủ rừng (bìa đỏ..):
Các hồ sơ tài liệu này chủ yếu là bìa đỏ và các tài liệu liên quan đến rừng được giao hoặc có được do thừa kế, sang nhượng
Trong tổ chức chi hội nên phân công và giao trách nhiệm cho ít nhất vài người tìm hiểu kỹ hơn các quy định về việc này (việc giao đất giao rừng, về quản lý địa chính, bản đồ, về sổ đỏ, về các thủ tục của nhà nước, về các đầu mối tại cơ quan chính quyền về vấn đề này). Khi chủ rừng nào đó có nhu cầu thì có thể trao đổi ngay tại tổ chức hội. Tổ chức hội tạo điều kiện để có sự trao đổi giữa chủ rừng có nhu cầu với những người am hiểu việc này, thậm chí là dẫn chủ rừng đến cơ quan nhà nước có trách nhiệm để giải quyết, nếu cần..
Những khó khăn trong hồ sơ về rừng của mỗi chủ rừng cũng có thể được trao đổi kỹ trong tổ chức hội để hội viên và chủ rừng hiểu cặn kẽ hơn các quy định của nhà nước và các quyền và lợi ích phù hợp của chủ rừng.

5.3 Khó khăn trong việc đo đếm, nhận biết về diện tích, trữ lượng rừng và các tài liệu về rừng tại cơ quan quản lý rừng:
Hiện nay ngành lâm nghiệp đã có các tài liệu điều tra, kiểm kê rừng trên phạm vi cả nước. Trong tương lai gần, các chủ rừng có thể tiếp cận các thông tin này thông qua mạng internet. Tuy nhiên, vào mạng để tra tìm các thông tin về rừng của mình cũng phải am hiểu về máy tính và mạng, vì vậy, tổ chức hội ở cơ sở hoặc tự mình phân công hội viên nào đó lo việc này cho các hội viên, hoặc HCRVN sẽ tổ chức dịch vụ này cho mọi hội viên ở cả nước.

5.4 Khó khăn trong việc xin phép khai thác sử dụng rừng:
Các quy định về quản lý rừng hiện khá nhiều, do rừng có nhiều loại, nhiều mục đích sử dụng, việc vận dụng các quy định này ở mỗi địa phương cũng có khác nhau.
Cũng như việc nắm bắt tư liệu về rừng nêu trên, các tổ chức hội cũng nên phân công có người am hiểu việc này để lo giúp các hội viên của mình; mỗi khi hội viên có nhu cầu đến cơ quan nhà nước lo thủ tục về khai thác rừng, nhất là đối với rừng tự nhiên, sẽ được tổ chức hội trao đổi, tư vấn và hướng dẫn về các thủ tục cần thiết.

5.5 Khó khăn trong việc tìm hiểu thị trường lâm sản:
Hiện ở nhiều địa phương có khá nhiều người tìm đến mua lâm sản, song ở vài địa phương khác lại có ít thông tin về người mua (do hàng hóa lâm sản ở đó chưa nhiều); trong tổ chức chi hội, tổ hội nên phân công một số hội viên phụ trách việc này.
Các hội viên được phân công nên tập trung tìm hiểu các thông tin từ trên mạng, các thông tin mua bán ở địa phương mình và các địa phương khác. Sau đó chi hội có thể tổ chức trao đổi và lựa chọn các phương án khách hàng cũng như giá cả để các hội viên, các chủ rừng có thông tin để thỏa thuận việc mua bán với người mua hàng.
Nếu chưa thống nhất được việc mua bán lâm sản trong tổ chức hội, các hội viên khi cần bán lâm sản cũng có thể trao đổi trực tiếp với các hội viên được phân công như trên để có những thông tin cần thiết trước khi gặp người mua để bán lâm sản của mình.
Với những tổ chức hội có khả năng hơn cũng có thể có sự thống nhất chung về giá cả và lựa chọn khách hàng để bán, tuy nhiên tổ chức hội ở cơ sở không nên đứng ra mua bán chung cho các hội viên vì đây là việc rất phức tạp, khó quản lý lâu bền..

5.6 Khó khăn trong khai thác, vận chuyển gỗ khai thác ra khỏi rừng:
Trong tổ chức hội có thể đưa ra bàn chung về việc này, tìm các giải pháp và phương án làm đường, phương án tổ chức khai thác tốt nhất trên địa bàn;
Hiện Nhà nước có chính sách hỗ trợ mở đường vào các khu đất rừng, tuy nhiên nếu việc mở đường lại đòi hỏi thêm chi phí đền bù thì việc hỗ trợ mở đường của Nhà nước sẽ trở nên không khả thi; Vì vậy các tổ chức chi hội, tổ hội nên trao đổi, thống nhất việc làm đường, có phương án mở đường tối ưu, vận động các chủ rừng có liên quan cùng bỏ đất ra để mở đường, sau đó có kiến nghị với cơ quan có trách nhiệm của nhà nước hỗ trợ mở đường theo chính sách..

5.7 Khó khăn trong khâu xác định cây trồng, giống cây trồng:
Việc xác định trồng cây gì, giống nào, mua giống của ai, trồng cây ngắn ngày hay dài ngày là khá khó khăn với mỗi chủ rừng. Tình trạng chung hiện nay là trồng và làm rừng theo phong trào, thấy người khác làm thế nào thì mình làm theo.
Tổ chức HCRVN cũng đặt ra nhiệm vụ cho mình là tận dụng tối đa mọi nguồn lực có các biện pháp nâng cao năng lực cho hội viên của mình để phát triển rừng.
Tuy nhiên, vấn đề chính và rất quan trọng vẫn phải là giải quyết vấn đề của mỗi hội viên tại chỗ, tại chính tổ chức hội ở cơ sở, bởi mỗi địa phương và cơ sở có điều kiện của riêng mình, có điều kiện đất đai, thổ nhưỡng, có tình hình thị trường và điều kiện kinh tế xã hội khác nhau;
Mỗi chi hội, tổ hội vẫn cần phân công một số hội viên có kinh nghiệm, có điều kiện và am hiểu vấn đề phụ trách vấn đề này.
Những người được phân công vừa tìm hiểu tình hình rừng của các chủ rừng, tìm hiểu thông tin có liên quan, vừa phản ảnh với các cơ quan, tổ chức có trách nhiệm về những vấn đề của mình để có lời khuyên tốt nhất, vừa đưa vấn đề ra tổ chức hội, trao đổi với các hội viên để có cách lựa chọn tốt nhất;
Hết sức chú ý việc giám sát tập thể chất lượng hạt giống, giám sát giống theo hành trình. Đây là việc rất phức tạp, nhưng nếu có tổ chức hội, vấn đề có thể sẽ được giải quyết đơn giản hơn nhiều.

5.8 Khó khăn trong việc tìm nguồn vốn đầu tư phát triển rừng:
Việc tìm nguồn vốn đầu tư, hỗ trợ đầu tư có thể cần có thông tin, vì vậy trong tổ chức hội cũng cần phân công người có trách nhiệm lo việc này.
Hiện Nhà nước đã có các chính sách hỗ trợ hay cho vay ưu đãi trồng rừng, tuy nhiên do nhiều nguyên nhân mà nhiều chủ rừng chưa tiếp cận được các chính sách này. Tổ chức hội ở cơ sở rất cần trao đổi, giúp đỡ các chủ rừng có nhu cầu tiếp cận các cơ quan nhà nước có trách nhiệm, các cơ quan tín dụng về thủ tục, về các cơ chế tín chấp (nếu cần);
Việc chủ rừng phải khai thác rừng sớm do những khó khăn của chủ rừng hoặc do có nhu cầu đột xuất, trong tổ chức hội cơ sở cũng có thể trao đổi, hỗ trợ nhau bằng nhiều cách để giữ rừng đến chu kỳ khai thác hiệu quả hơn. Việc giữ rừng lại cũng có thể bằng cách người có khả năng về tiền cùng đầu tư với chủ rừng và có cách ăn chia việc giữ lại rừng đến tuổi khai thác..

6- Hội Chủ rừng Việt Nam đang trong quá trình hình thành và sẽ có những giải pháp thiết thực hỗ trợ các hội viên, các tổ chức hội ở cơ sở về các vấn đề nêu trên; Mà trước hết là thu thập thông tin về những khó khăn ở cơ sở do cơ chế, chính sách của Nhà nước để có những kiến nghị với nhà nước có các điều chỉnh phù hợp.
Trước mắt hội cũng đã lập trang website của mình như một diễn đàn cho các hội viên và chủ rừng về các khó khăn này cũng như các kinh nghiệm khắc phục khó khăn ở các địa phương để cùng chia sẻ, rút kinh nghiệm./.



(Nguồn: BBT)


Ý kiến của bạn