VỀ KHÁI NIỆM CHỦ RỪNG TRONG LUẬT BẢO VỆ VÀ PHÁT TRIỂN RỪNG
(Hiện nay, Quốc hội đang xem xét sửa đổi Luật bảo vệ và phát triển rừng (năm 2004), trong đó có các quy định về chủ rừng. Trang website Hội Chủ rừng Việt Nam trân trọng giới thiệu bài viết trao đổi về khái niệm chủ rừng trong luật BV&PTR của tác giả Đức Nhị nhằm góp thêm tiếng nói trong việc xem xét sửa đổi bộ luật quan trọng này)


Khái niệm chủ rừng theo Luật bảo vệ và phát triển rừng 2004
Chủ rừng theo luật bảo vệ và phát triển rừng (BV&PTR) 2004 là “tổ chức, hộ gia đình, cá nhân được Nhà nước giao rừng, cho thuê rừng, giao đất để trồng rừng, cho thuê đất để trồng rừng, công nhận quyền sử dụng rừng, công nhận quyền sở hữu rừng sản xuất là rừng trồng; nhận chuyển nhượng rừng từ chủ rừng khác.” (khoản 4/điều 3 – giải thích từ ngữ)
Các loại chủ rừng được nhắc tới trong luật gồm:
+ Ban quản lý rừng đặc dụng; Ban quản lý rừng phòng hộ;
+ Tổ chức kinh tế;
+ Hộ gia đình, cá nhân;
+ Chủ rừng là đơn vị vũ trang nhân dân;
+ Chủ rừng là tổ chức nghiên cứu khoa học và phát triển công nghệ, đào tạo, dạy nghề về lâm nghiệp;
+ Chủ rừng là người Việt Nam định cư ở nước ngoài;
+ Chủ rừng là tổ chức, cá nhân nước ngoài.
Cũng được giao rừng, nhưng cộng đồng dân cư thôn lại được quy định tại một mục riêng và có thể hiểu như một loại chủ rừng đặc thù.

Nhận diện chủ rừng trong thực tiễn
Trong thực tiễn, ngoài các loại chủ rừng được liệt kê trong luật, còn nhiều các “chủ rừng” chưa được xác định hoặc gần như chưa được công nhận theo quy định của luật; Còn nhiều diện tích rừng chưa có chủ rừng đích thực, nhiều diện tích rừng có chủ rừng theo luật và chủ rừng thực tế là khác nhau.
Có nhiều hộ gia đình, cá nhân có rừng do được các Công ty lâm nghiệp, các Ban quản lý rừng giao khoán đất và rừng theo Nghị định số 01/CP ngày 01/1/1995 và sau này là Nghị định số 135/2005/CP ngày 08/11/2005 của Chính phủ. Theo các quy định trong luật, các hộ gia đình, cá nhân này không là chủ rừng của diện tích rừng nêu trên do họ không được Nhà nước trực tiếp giao đất, cho thuê đất để trồng rừng.
Tương tự như trên, một số tổ chức kinh tế và cá nhân hợp đồng mượn đất của các tổ chức và cá nhân khác (có bìa đỏ) để trồng rừng hoặc có nhiều hộ gia đình, cá nhân trồng rừng hoặc tái tạo rừng trên diện tích đất được giao để sản xuất nông nghiệp.. cũng không được ghi nhận là chủ rừng.
Có một số tổ chức (xã hội, chính trị xã hội và tổ chức khác) không là “tổ chức kinh tế”, cũng không là “tổ chức nghiên cứu khoa học và phát triển công nghệ, đào tạo, dạy nghề về lâm nghiệp” nhưng lại được các địa phương giao rừng hay được giao đất để trồng rừng. Nếu áp dụng đúng quy định tại luật BV&PTR 2004, họ cũng không được xác định là chủ rừng.
Trong thực tế hàng triệu ha rừng và đất rừng đang do UBND cấp xã hay cơ quan kiểm lâm trực tiếp quản lý cũng không xác định được chủ rừng theo quy định của luật.
Không được xác định chủ rừng đích thực, việc hướng đến quản lý rừng bền vững và có chứng chỉ rừng sẽ là một trở ngại lớn đối với những diện tích rừng này.

Bản chất các chủ rừng trong luật
Rừng là một loại tài nguyên thiên nhiên đặc thù. Rừng có vai trò lớn lao trong môi trường sinh sống của con người và xã hội.
Ngoài việc được hưởng một phần giá trị của rừng thông qua khai thác sử dụng lâm sản, các chủ rừng hầu như không thể hưởng toàn bộ các giá trị về môi trường của khu rừng mà chỉ có xã hội là được hưởng các giá trị này (gần đây các chủ rừng mới được hưởng một phần chi trả dịch vụ môi trường rừng theo quy định của Chính phủ).
Khác với nhiều loại tài nguyên thiên nhiên khác, với rừng, người chủ rừng phải thường xuyên đầu tư cho các hoạt động quản lý, bảo vệ và phát triển rừng, còn việc khai thác sử dụng một diện tích rừng cụ thể chỉ có thể được thực hiện tại thời điểm rừng đạt đến một chất lượng nhất định sau một thời gian dài quản lý theo chu kỳ khai thác.
Theo hiến pháp và các quy định của luật pháp hiện hành, rừng tự nhiên và rừng trồng do Nhà nước đầu tư thuộc sở hữu toàn dân, Nhà nước là chủ sở hữu và có thể hiểu là chủ rừng sở hữu. Các tổ chức, cá nhân được Nhà nước giao rừng (và được gọi là chủ rừng theo luật) thực chất là để thực hiện việc quản lý, bảo vệ, phát triển cho Nhà nước (chủ sở hữu) và được hưởng một số quyền sử dụng rừng theo quy định.
Với rừng trồng là rừng sản xuất (theo luật 2004) thì các tổ chức cá nhân đầu tư là chủ sở hữu và họ là chủ rừng sở hữu. Tuy nhiên việc quản lý, bảo vệ, phát triển và sử dụng diện tích rừng này vẫn phải tuân thủ các quy định của Nhà nước và theo luật bảo vệ và phát triển rừng.

Tính chất của các loại chủ rừng
Các chủ rừng có thể là: Các tổ chức nhà nước được Nhà nước thiết lập hoặc được giao để quản lý một diện tích rừng thuộc sở hữu nhà nước; Các tổ chức ngoài nhà nước (kể cả là các cộng đồng dân cư) được Nhà nước giao hoặc thuê quản lý rừng của Nhà nước theo các quy định hay hợp đồng thuê khoán cụ thể; Các hộ gia đình, cá nhân được Nhà nước giao hoặc cho thuê rừng của Nhà nước theo các cơ chế giao hoặc cho thuê rừng của Nhà nước; Các tổ chức (trong hay ngoài nhà nước) hay các hộ gia đình, cá nhân tự đầu tư và sở hữu khu rừng của mình theo quy định.
Các tổ chức nhà nước có thể là các Ban quản lý rừng, các lâm trường, CTLN NN và các tổ chức khác là các tổ chức được Nhà nước thiết lập để quản lý rừng theo những quy định về tổ chức quản lý cụ thể đối với từng loại hình tổ chức.
Các tổ chức ngoài Nhà nước (kể cả là cộng đồng dân cư) được Nhà nước giao, cho thuê rừng hoặc tự đầu tư tái tạo rừng đều là những tổ chức có quy chế hay điều lệ hoạt động rõ ràng, có người đại diện pháp nhân và có khả năng chịu trách nhiệm pháp lý trước pháp luật.
Các chủ rừng được Nhà nước thiết lập để quản lý rừng thuộc sở hữu nhà nước hay các chủ rừng khác được Nhà nước giao rừng hay thuê rừng thuộc sở hữu nhà nước, ngoài việc được hưởng một số quyền sử dụng rừng, về thực chất vẫn làm nhiệm vụ quản lý, bảo vệ và phát triển rừng cho Nhà nước (nhiệm vụ công ích), được Nhà nước đảm bảo về nguồn lực đầu tư hoặc được Nhà nước hỗ trợ bằng những cơ chế, chính sách tương ứng.

Kiến nghị
Theo quy định về chủ rừng trong luật 2004, ngoài việc được giao rừng, cho thuê rừng, nhận chuyển nhượng rừng, đã là chủ rừng khi được “giao đất để trồng rừng, cho thuê đất để trồng rừng,”. Thực ra, được giao hay cho thuê đất thì mới chỉ là “chủ đất”, còn “Chủ rừng” chỉ xuất hiện khi chủ đất đó có các hoạt động trồng rừng, tái tạo rừng..
Để bao quát được các loại chủ rừng trong thực tiễn nêu trên và cho rõ ràng hơn, đề nghị khái niệm chủ rừng có thể là:
“Chủ rừng là tổ chức, hộ gia đình, cá nhân, cộng đồng dân cư được Nhà nước giao rừng, cho thuê rừng; tự phục hồi và phát triển rừng trên diện tích đất được Nhà nước giao, cho thuê hoặc được sử dụng hợp pháp; nhận chuyển nhượng, tặng cho, nhận thừa kế rừng từ tổ chức, cá nhân khác theo quy định của pháp luật.”

(Nguồn: Đức Nhị)


Ý kiến của bạn